|

Khoa Phùng: Tình yêu với những chi tiết kiểu cách

Được biết Khoa qua lời giới thiệu của một người bạn, tôi thầm nghĩ: “Một người trẻ say mê văn hoá Việt Nam đến mức nào mới có thể dành toàn bộ thời gian và công sức tìm tòi, nghiên cứu để mang đến một đời sống mới trù phú cho những sản phẩm nghệ thuật đã bị mai một theo thời gian?!”. Phải nói rằng tôi rất mong đợi được gặp Khoa, trò chuyện để hiểu hơn về sự thôi thúc đẹp đẽ bên trong con người này. Bởi Khoa Phùng khá kín tiếng, tất cả những gì tôi biết về anh chỉ là cảm nhận của chính tôi khi ngắm nhìn các tác phẩm của anh. Chúng tôi hẹn gặp nhau trong dịp anh từ Phan Thiết trở về Sài Gòn vài hôm để thăm gia đình. Từ cách đây hơn một năm, Khoa đã chuyển địa điểm sinh sống và sáng tác đến vùng biển. Mặc dù không còn ở một thành phố năng động, gặp nhiều bất tiện trong sinh hoạt, nhưng sự thay đổi môi trường sống này cũng mang lại nhiều điều kiện tốt hơn cho việc sáng tác như không gian riêng tư, khí hậu trong lành, tinh thần thoải mái để có thể dành nhiều thời gian hơn cho những suy nghĩ và thực hiện các ý tưởng.

Những bức tranh sơn mài của Khoa Phùng thể hiện sắc nét mối quan tâm của người nghệ sỹ đối với nét đẹp trong truyền thống và văn hoá của người Việt Nam. Các nhân vật chủ đạo trong tranh của anh bước ra từ những trang sử, những giai thoại đời xưa: người phụ nữ trong trang phục thời Nguyễn, nhóm người Dao Đỏ trong một buổi lễ cưới ở vùng cao, gia đình đội khăn trắng trong một đám tang, Mỵ Châu, Nguyệt Cung Thần Chủ Nguyệt Tịnh Công Chúa cùng tám vị hộ vệ tinh nương, các vị Thanh đồng, hầu dâng, cung văn trong tín ngưỡng Đạo Mẫu, v.v.. Cách thể hiện mới mẻ trong nét vẽ, màu sắc, bố cục tạo nên sức sống mạnh mẽ cho những giá trị xưa cũ. 

Ngoài dòng tranh sơn mài là sở trường, Khoa Phùng có niềm đam mê và không ngừng tìm tòi tìm cách thể hiện nghệ thuật truyền thống theo một hướng đi riêng. Dự án nổi bật có thể kể đến là bộ tranh “Thập Nhị Tố Nữ” được triển lãm trong sự kiện “Happy New Tết” ở Úc, lấy ý tưởng từ các nhân vật công chúa Disney kết hợp cùng trang phục truyền thống của các dân tộc Việt Nam trải dài từ Bắc vào Nam, phát triển trên nền tảng dòng tranh Tố Nữ theo phong cách tranh dân gian Hàng Trống. Một dự án khác của anh tập trung vào việc làm mới tranh dân gian Đông Hồ và Hàng Trống trên giấy điệp với kỹ thuật và tạo hình tiệm cận với những giá trị nghệ thuật của dòng tranh cũng như phát triển trang phục gần đúng với trang phục của người Việt thay vì các yếu tố y phục chung chung của tranh Đông Hồ. 

Gần đây, Khoa Phùng đang nghiên cứu và phỏng dựng những chiếc lọng bướm – một biểu tượng văn hoá của người Việt xưa đã mai một theo thời gian. Công việc phỏng dựng lọng bướm hết sức công phu, bao gồm nhiều bước: cắt dán, khâu mép, đan dây trang trí, vẽ hoa văn, phủ lớp dầu chống nước,… Để hoàn thiện tất cả những công đoạn này mất khoảng 10 ngày. Có thể nói, Khoa Phùng là một người cầu toàn qua cách anh tập trung, tỉ mỉ và kiên nhẫn với từng thao tác nhỏ. Những chiếc lọng bướm xưa được phỏng dựng bằng chính cảm quan riêng của Khoa Phùng bỗng trở thành một món đồ sành điệu được giới trẻ đam mê thời trang trong và ngoài nước yêu thích. Điều này khẳng định một niềm tin vĩnh hằng rằng thời gian luôn biết cách đào thải những thứ gần giống với cái đẹp và đem những vẻ đẹp thực sự quay trở lại. 

Lý do vì sao trước đây anh chọn học chuyên ngành Sơn Mài mà không phải là một ngành mỹ thuật khác? 

Tôi quyết định chọn chuyên ngành Sơn Mài thay vì các chất liệu khác vì cảm thấy bản thân có sự gắn bó với các giá trị truyền thống. Hơn nữa, sơn mài cũng là một chất liệu mang đặc trưng riêng của Việt Nam. Tôi thấy chất liệu này mang đến cho mình vừa nhiều thử thách, vừa nhiều đường hướng để khám phá. Thử thách ở chỗ làm sao để tác phẩm vẫn mang đậm tinh thần dân tộc của Việt Nam vừa không đi theo lối mòn. Chính thử thách đó mở ra cho tôi nhiều cơ hội để có thể thỏa sức thử nghiệm trên các tác phẩm sao cho tinh thần Việt Nam ấy thực sự mới mẻ trong dòng chảy đương đại. 

Có thể nhận thấy niềm yêu thích và mối quan tâm rất lớn đến các giá trị truyền thống thể hiện qua những lựa chọn của anh khi thực hành nghệ thuật. Điều anh yêu thích ở hội hoạ nói riêng và nghệ thuật nói chung của Việt Nam là gì? Việc ứng dụng những kiến thức ở trường lớp lên thực tế khi sáng tác như thế nào? 

Điều tôi yêu thích ở nghệ thuật Việt Nam là một lịch sử lâu dài và phong phú, có sự kết hợp và cả sự khác biệt rõ rệt giữa các vùng văn hóa của 54 dân tộc ở nước ta. Kể cả việc hấp thụ nhiều ảnh hưởng từ Trung Hoa cũng như nền nghệ thuật Pháp đã tạo nên một nền nghệ thuật Việt Nam nhiều bản sắc. Những kiến thức ở trường lớp mang lại cho tôi một nền tảng khoa học về bố cục, màu sắc, cũng như những cái nhìn tổng quan về chất liệu, giúp tôi có nền tảng để ứng dụng tốt vào sáng tác và thực hành trên đa dạng chất liệu nghệ thuật nói chung.

Ý tưởng phỏng dựng những chiếc lọng bướm của anh bắt nguồn từ đâu?

Những tư liệu còn sót lại về những chiếc lọng thời xưa rất hiếm hoi. Một  lần nọ, tôi nhìn thấy một bức vẽ minh họa chiếc lọng bướm trong quyển “Kỹ thuật của người An Nam” của tác giả Henri Oger. Sau đó, tôi xem được thông tin ở Pháp đăng bán đấu giá một chiếc lọng bướm còn sót lại sau rất nhiều năm tháng bị thất truyền. Mặc dù chiếc lọng đó không còn nguyên vẹn nhưng cũng đủ cho tôi những hình dung cụ thể, giúp tôi có những hướng đi để nghiên cứu và tái hiện chúng. Ban đầu, tôi cũng chỉ muốn làm để thỏa niềm yêu thích của bản thân, chứ không nghĩ sẽ được nhiều người biết đến như vậy. 

Anh nói rằng mình làm mọi thứ xuất phát từ niềm yêu thích. Tình yêu với nghệ thuật đã lớn dần lên theo thời gian như thế nào? 

Tuy xuất thân trong gia đình không có truyền thống về nghệ thuật, nhưng nhờ bối cảnh gia đình phong phú, tôi được tiếp xúc với các nền văn hóa đa chiều từ Bắc vào Nam, khiến tôi nhận thức được từ rất sớm rằng văn hóa, nghệ thuật nước mình vô cùng đa dạng. Nhưng nếu chỉ ở một chỗ tìm hiểu qua sách vở hay những lời kể là chưa đủ. Niềm yêu thích đó lớn dần lên nhờ sự trải nghiệm với từng nơi tôi đi qua. Mỗi nơi sẽ có những cái nhìn riêng về nghệ thuật mà ở đó mình có thể học hỏi thêm nhiều điều từ thực nghiệm.

Xem ra một người nghệ sỹ theo đuổi nghệ thuật thị giác như anh cần nhiều trải nghiệm thực tế, vừa là để tìm kiếm nguồn cảm hứng, vừa là để mở rộng kiến thức chuyên môn. Anh có thể nói rõ hơn về cái nhìn riêng về nghệ thuật, những điều mà anh học hỏi được khi đi qua các vùng miền của Việt Nam? 

Nhờ di chuyển nhiều, tôi có thêm nhiều kiến thức đa dạng. Chuyến đi thực tế giúp tôi xác minh những điều mình từng đọc qua sách vở. Có những điều mình chưa từng biết, hoặc có những điều mình đinh ninh là mình đã biết nhưng đôi khi là văn hoá ở từng vùng miền cũng thay đổi theo thời gian mà các tài liệu chưa cập nhật. 

Chẳng hạn như nếu chỉ đọc trên sách, tôi chỉ biết tới Trống Đồng như một cổ vật thời Đông Sơn và tưởng rằng bây giờ không ai sử dụng nữa, nhưng thực ra không phải như vậy. Ở Việt Nam mình nói riêng thì vẫn còn nhiều dân tộc như người Khơ Mú, Pu Péo, Lô Lô và Mường còn sử dụng trống đồng trong các nghi lễ. Có một chi tiết thú vị tôi đặc biệt chú ý trong một chuyến đi Hà Giang tới bản của người Lô Lô là cặp trống đồng (trống đực, trống cái) của họ thường được chôn dưới đất, đến khi có lễ tang, lễ cưới, Tết họ mới đào lên để sử dụng. 

Vào một lần tham dự đám tang ở Kon Tum, tôi biết được một phong tục của người dân nơi đây là người đã mất sau khi được thay y phục cũng sẽ được đeo khăn tang. Lý giải cho phong tục này là người đã mất cũng đã mất cha mất mẹ, nên khi mất vẫn phải để tang cha mẹ để tròn chữ hiếu. Khi tham gia lễ hội Kate của người Chăm (Tết của người Chăm) ở Ninh Thuận, tôi  dịp dùng cơm cùng gia đình họ. Bất ngờ là trước giờ tôi nghĩ người theo đạo Bà La Môn như họ sẽ không ăn thịt bò, nhưng bữa cơm hôm đó thì vẫn có thịt bò. Hỏi ra thì biết được ngày nay, họ cũng thay đổi quan điểm, chỉ có các vị chức sắc tôn giáo mới cần kiêng kị, còn người dân bình thường thì sẽ thoáng hơn. 

Về người H’mông, họ rất quan trọng việc ăn mặc, mỗi năm Tết đến, phải có quần áo mới để mặc nếu không sẽ không may mắn. Do đó, họ thường dành nửa năm làm nông, phần thời gian còn lại họ sẽ trồng lanh, lấy sợi dệt vải, nhuộm vải… Bất cứ khi nào có thời gian rảnh thì người phụ nữ sẽ tranh thủ may, thêu chuẩn bị y phục năm mới cho cả gia đình. Nếu nhà có con gái lớn thì các bé sẽ được học từ sớm để phụ mẹ một tay. Đây cũng là lý do mà đồ thổ cẩm hiện nay trên thị trường đa số là đồ của người H’mông. Nhưng ngày nay, người ta cũng có cái nhìn cởi mở hơn, cũng có các hợp tác xã về dệt may riêng để sản xuất quanh năm nên người phụ nữ không còn bị bó buộc trong chuyện làm nông và may vá cho gia đình nữa.

Anh kể rằng mình rất thích tìm tòi về các tác phẩm nghệ thuật đã bị mai một. Hãy kể một chút về những điều hay ho mà anh đã nghiên cứu. 

Có lẽ vì ngày nay người ta càng ngày càng thích tối giản nên những thứ cầu kỳ bị mai một và chưa có nhiều những người làm công việc phục dựng chúng. Tôi là một người thích những chi tiết rườm rà nên tôi yêu việc dựa trên những tư liệu góp nhặt được để tìm cách mang những tác phẩm, những vật dụng có tính thẩm mỹ cao và gắn liền với giá trị văn hoá về lại đời sống hiện đại. Điều thú vị và tuyệt vời mà tôi cảm nhận được trong quá trình nghiên cứu này là được tiếp xúc với nhiều người ở những lĩnh vực khác nhau theo thứ mà mình đang nghiên cứu, từ đó có thêm những cái nhìn mới về các khía cạnh khác của nghệ thuật. 

Tôi chủ yếu tìm hiểu về tranh, tượng, đồ thủ công mỹ nghệ và trang phục. Có rất nhiều những tài liệu nghiên cứu sâu về văn hoá và nghệ thuật xưa. Khi đọc và xem các tài liệu, tôi nhận ra người xưa có thật nhiều ý tưởng và luôn hướng tới việc làm ra một cái gì đó cầu kỳ phức tạp. Hiện tại, tôi đang nghiên cứu để phỏng dựng lại một kiểu nón lá lợp bằng lông quạ và lông cò ngày xưa các quan lại triều đình thường sử dụng, tuỳ theo cấp bậc mà màu sắc và phần chóp nón sẽ có điểm khác biệt. Tôi cũng đang đang nghiên cứu về tranh gói vải. Dòng tranh này phổ biến ở miền Trung và miền Nam cuối thời Nguyễn, chủ yếu là làm tranh chân dung thờ và tranh tôn giáo. Tôi muốn phát triển dòng tranh này với đa dạng chủ đề chứ không chỉ để làm tranh thờ.

Vì sao anh thường gọi công việc của mình là “phỏng dựng” hoặc “tái hiện” chứ không phải “phục dựng”? Nếu đặt hai yếu tố: giữ cái hồn của tác phẩm gốc và tôn lên tính cá nhân trong tác phẩm lên bàn cân, cán cân sẽ nghiêng về bên nào hơn?   

Hiện tại, tôi chưa dám gọi việc mình làm là phục dựng mà chỉ gọi là phỏng dựng hoặc tái hiện vì theo tôi, việc phục dựng đòi hỏi rất nhiều kỹ thuật và nghiên cứu sâu để làm nên các tác phẩm giống với tác phẩm gốc nhất có thể. Đối với lọng bướm, tôi cho rằng mình đang cố gắng để đúng với bản gốc được 70%. 

Tôi thường dành nhiều thời gian cho việc tư duy làm sao để vẫn giữ được các yếu tố then chốt, giữ được cái cốt cách của tác phẩm đó, nhưng cũng đồng thời tìm ra cách để cải tiến để phù hợp với thị hiếu của xã hội đương đại, sau đó sẽ nghiên cứu phát triển chất liệu phù hợp để thực hiện nó một cách tốt nhất. Với lọng bướm, tôi muốn thêm thắt những sáng tạo của riêng mình lên màu sắc, hoa văn của tác phẩm để chúng trở nên gần gũi, dễ được đón nhận. Như vậy mới có nhiều cơ hội hơn cho những tác phẩm đó được sống. 

Dường như, yếu tố thời trang luôn là điểm nhấn trong các tác phẩm của Khoa Phùng,  từ tranh cho đến lọng bướm, mũ lông chim. Chẳng trách, các tác phẩm của anh được đón nhận không chỉ bởi giới chuyên môn mà còn bởi nhóm người trẻ sành điệu và yêu thích nghệ thuật?! 

Tôi thường đưa sâu yếu tố thời trang vào tác phẩm, vì theo tôi, trang phục là yếu tố cơ bản nhất để người ta nhìn vào có thể nhận diện được nhân vật trong tranh là người dân tộc nào, qua đó, mọi người có thể thấy rõ hơn vẻ đẹp và sự đa dạng văn hoá của từng dân tộc ở Việt Nam, phân biệt được người Việt với các nhóm người dân tộc Trung Quốc, Lào, Thái Lan, v.v., chứ không phải cào bằng mọi nhóm người thành người dân tộc, hoặc thổ cẩm dân tộc, họa tiết dân tộc. Sự đa dạng đó là điều tôi yêu thích về văn hóa và nghệ thuật Việt Nam. Tôi không có quan niệm chỉ người Kinh và phần còn lại, tôi muốn cho mọi người thấy được cái đẹp riêng của từng dân tộc.

Những năm gần đây, việc thực hành nghệ thuật ở Việt Nam có vẻ cởi mở hơn, các nghệ sỹ đan xen nhiều thể loại nghệ thuật với nhau, cũng như tính ứng dụng của sản phẩm nghệ thuật trong đời sống cũng được nâng cao. Anh quan sát được những gì trong dòng chảy này? Anh có cho rằng tất cả những sáng tạo mới dựa trên nền tảng cũ sẽ bền vững hơn? 

Những giá trị bền vững là bề dày của lịch sử, văn hóa, còn những sáng tạo mới theo thời gian cũng sẽ trở thành những sản phẩm cũ, và có thể sẽ không còn phù hợp với xã hội tương lai, cho nên, các sản phẩm văn hóa ngày càng phải biết kế thừa và phát triển.

Như tôi vừa đề cập, xã hội hiện đại có vẻ đang dần mất đi sự thú vị, do công nghiệp hoá gắn liền với sự tối giản. Nhưng sự tiện lợi vẫn có thể đi kèm với những cái đẹp đẽ nếu người ta thật sự muốn, như những chiếc máy may con bướm xưa hay những chiếc máy đĩa than vẫn còn những giá trị duy mỹ mà ngày nay người ta vẫn muốn ngắm nhìn. Chúng sẽ không chết đi trong dòng chảy lịch sử mà vẫn sống cùng sự phát triển của xã hội. Cho nên, sự cầu kỳ vẫn có thể song hành cùng đời sống hiện đại nếu nó đủ đẹp. 

Tôi cũng nhận thấy mặt tích cực rằng xã hội hiện nay đang tiếp cận nghệ thuật một cách năng động. Từ đó cũng tạo động lực cho các nghệ sĩ nói chung và riêng tôi nhiều cảm hứng trong sáng tạo hơn. 

Cám ơn anh về cuộc trò chuyện!

Theo tài liệu, lọng bướm là sản phẩm thủ công từ bàn tay tài hoa của các nghệ nhân của làng nghề truyền thống làm lọng của người An Nam. Sứ thần Lê Công Hành (triều đại Lê Chiêu Tông) được xem là cha đẻ của nghề làm lọng và thêu tại Việt Nam bởi ông đã học được cách thêu, làm lọng trong thời gian đi sứ Trung Quốc. Trong quyển “Connaissance du Việt-Nam” (Hiểu biết về Việt Nam) xuất bản năm 1954 tại Hà Nội, Pierre Huard và Maurice Durand ghi chép rằng chiếc lọng che nắng là biểu tượng của quyền lực chính trị hoặc địa vị xã hội, được dùng để che nắng hoặc làm vật trang trí treo tường ở những gia đình quyền quý.

Bài đăng trên Tạp chí Đẹp, số 292
Ảnh: Ngọc Ánh

Bài viết tương tự

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *