Ninh Bình – Ngày trở lại
Cách đây 5 năm, Cha đưa chúng tôi đến thăm gia đình người con cả của cô ruột của Cha. Cô ruột của Cha? Tức là em gái của ông Nội. Sao ngần ấy năm tôi chưa từng nghe ai nhắc đến bà? Sau khi được giới thiệu làm quen với mọi người trong nhà, tôi chào một ông cụ trên 80 tuổi, gọi ông bằng anh theo vai vế, được nghe ông kể chuyện về bà Ninh bằng chất giọng miền Bắc đặc sệt mà tôi nghe chữ được chữ mất.
Chuyện là ngày xưa khi cả nhà vào Nam thì ông Cố tôi vẫn ở Ninh Bình, đến lúc ông già, ông Nội bảo bà Ninh về Ninh Bình chăm sóc. Bà về, rồi mất liên lạc luôn từ đó, mãi thời gian gần đây gia đình chúng tôi trong miền Nam và gia đình ngoài này mới nhận được tin tức. Chúng tôi đi thăm mộ bà, rồi chào tạm biệt, hẹn có dịp sẽ gặp lại. Trong khoảnh khắc chia tay bịn rịn, tôi lờ mờ nhận ra “gia đình tôi gốc Ninh Bình”. Tôi tự hỏi, “dịp” gặp lại ấy sẽ đến vào lúc nào?
Cuối cùng tôi cũng trở lại Ninh Bình trong một lần không lên kế hoạch. Có lẽ sự ràng buộc vô hình từ cội rễ đã dẫn lối. Non nước hiện ra xanh thẳm một màu khiến lòng tôi xốn xang. Sâu thẳm dậy lên một niềm tự hào mãnh liệt khi nghĩ đến gốc gác Ninh Bình của mình. Khung cảnh trầm mặc, hùng vĩ, sắc cạnh, nên thơ thế này, chẳng trách nhiều đời nhà tôi làm quan văn cho triều đình và làm thi sỹ. Càng lớn tôi càng nhận ra, con người ta dù đi xa đến đâu, sống tự do và hướng tới sự hiện đại tới đâu, truyền thống gia đình vẫn sống động trong từng mạch đập, là nền tảng để chúng ta phát triển, vươn xa.
Thăm cố đô Hoa Lư, chúng tôi may mắn gặp được hai bác xe ôm nhiệt tình thích kể chuyện đời xưa. Hai chú chở chúng tôi qua từng điểm di tích trong cố đô, giới thiệu chỗ này ngày xưa từng là kho bạc của nhà vua, chỗ kia là cung điện, chỗ nọ là phủ công chúa, kia là quảng trường, lăng của vua Đinh nằm trên đỉnh núi, lăng của vua Lê tựa vách núi, dãy núi này trông như một con rồng, dãy núi đó trông như hai đầu rộng chụm lại với nhau và chính giữa là viên ngọc, có một cây sứ đã sống ở đây 4 thế kỷ… Chú còn kể sau khi vua dời đô về Thăng Long ở thế kỷ 10, đến tận thế kỷ 17 dân mới bắt đầu vào cố đô sinh sống. Gia đình các chú ở đây mấy đời, những câu chuyện lịch sử về cố đô chú được nghe kể từ bé nên thuộc nằm lòng. Chúng tôi vừa nghe chú kể chuyện vừa tưởng tưởng về cuộc sống thời xa xưa. Gặp bạn bè quốc tế, chúng tôi luôn hạnh phúc khi trả lời họ về xuất xứ của mình, rằng: “Chúng tôi là người Việt Nam – một đất nước bé nhỏ có ngôn ngữ riêng và nét văn hoá đặc trưng giao thoa giữa nhiều sắc tộc.”
Còn nhớ, chuyến đi lần trước, chúng tôi đi thăm Tam Cốc từ bến thuyền Tràng An Cổ. Nằm trong quần thể Tràng An được UNESCO công nhận là di sản văn hoá thế giới, toàn cảnh Tràng An được tạo thành bởi một vùng núi non hùng vĩ với các tháp đá vôi, sông bao quanh, các thung lũng ngập nước, các hố hụt sâu, hang động,… Tên gọi Tam Cốc cũng dễ hiểu như tên gọi của vùng đất yên tĩnh và thanh bình này. “Tam” là “ba”, “cốc” là hang. Bơi thuyền dọc theo sông Ngô Đồng bạn sẽ đi xuyên qua 3 hang: Hang Cả, Hang Hai và Hang Ba. Đoạn tôi thích nhất có lẽ cũng là lúc thuyền chui vào hang tối om, chỉ thấy lờ mờ mấy chiếc thuyền phía trước và nghe những giọng nói râm ran hoà quyện âm vang từ những người đang trên cùng dòng nước.
Tôi hỏi cô chèo thuyền tên gì. Nghe cô trả lời, hai đứa cười phá lên vui sướng vì tên cô quá đẹp: Thiên Bích (Sau cô mới nói thêm chồng cô tên Thiên, cô tên Bích nên mọi người hay gọi cô là Thiên Bích). Chèo ngang đoạn vừa ra khỏi bến thuyền, cô chỉ tay lên phía bờ bên trái chỉ nhà cô trên đấy. Đất nhà cô rộng, có vườn táo to. Cô chèo thuyền trên 20 năm nuôi hai đứa con học Đại Học ở Hà Nội. Giọng cô vui phơi phới suốt 2 tiếng trên thuyền làm cho những ngày đầu năm của chúng tôi thêm tươi vui. Cô nói: “hôm nào có nắng thì hang không tối thế này mà nắng hắt vào lóng lánh đẹp lắm cơ!” Tôi nói: “Không sao cô ơi, con thích tối như này trông huyền bí hơn”. Chừng thuyền ra đến gần cửa hang ánh sáng rạng lên mới đáng kinh ngạc làm sao! Tôi cũng nói với cô: “Con sẽ còn quay lại”. Cô bảo lần sau đi mùa lúa chín, tầm tháng 4 âm lịch, không thì tháng 9, tháng 10 âm, sát hai núi đá vôi là ruộng lúa trải dài ngút mắt, bơi thuyền trong đám lúa còn nghe cả hương hoa súng thơm ơi là thơm. Tôi “dạ” gọn hơ!
Nói vậy chứ tôi biết chẳng dễ gì gặp lại cô giữa Tràng An mênh mông này. Lần trở lại, chúng tôi thuê thuyền ở bến Tràng An mới được quản lý chặt chẽ, thuyền thiết kế đồng nhất, đẹp mắt và tươm tất. Từ đây có nhiều tuyến khác nhau cho du khách lựa chọn. Chúng tôi chọn tuyến số 3 – đi qua 3 hang động (hang Đột, hang Vân, hang Đại) và 2 đền thờ. Trong số các điểm thuyền đi qua, chúng tôi ấn tượng nhất hang Đột. Với chiều dài hơn 1000 mét, địa hình hiểm trở nhiều đoạn phải cúi thấp người thuyền mới đi qua được cùng với hệ thống nhũ đá huyền ảo – tuyệt tác tự nhiên khiến con người không tránh khỏi ngỡ ngàng. Hành trình và quang cảnh có khác chuyến đi trước, nhưng những người chèo thuyền vẫn thế. 2000 chiếc thuyền con con, 2000 con người luân phiên chờ đến lượt chở khách. Họ thường chèo thuyền một buổi sáng hoặc chiều, thời gian còn lại làm việc khác.
Chúng tôi gặp một cô cũng vui vẻ. Cô kể chuyện nghề, chuyện vẻ đẹp non nước thay đổi qua từng mùa, chuyện bảo tồn di sản. Nhờ được vào danh sách của UNESCO, cảnh sắc thiên nhiên được bảo tồn vẹn nguyên đến từng chi tiết nhỏ. Cô còn kể chuyện tâm linh, rằng vào một đợt mưa lũ nọ, có người đàn ông kia sống trên núi nằm mơ thấy một ông lão râu tóc bạc phơ dặn dò chuyển nhà ngay kẻo núi lở. Người đàn ông không tin. Đêm hôm sau, gặp lại ông lão trong mơ, ông quát to bảo dọn nhà ngay. Sáng ra, cả gia đình lục tục dọn nhà. Tối đó, núi lở sập đúng vào ngôi nhà, chẳng còn thấy nhà đâu. Mọi người truyền tai nhau bảo ông lão là thần núi. Quả thật, có nhiều thứ trên đời chúng ta không thể lý giải được!

Trên dòng nước, trước vẻ đẹp thuần khiết của thiên nhiên, qua những câu chuyện kể, chúng tôi như được tĩnh lặng để đi tìm lời giải cho những trăn trở của riêng mình.























